Đoàn Luật Sư Thành Phố Hà Nội TƯ VẤN LUẬT TRỰC TUYẾN CÔNG TY LUẬT BÁCH DƯƠNG
Hotline 1900 6280

Sống chung như vợ chồng thì có được hưởng thừa kế và giám hộ cho con riêng không

Đăng lúc: Thứ ba - 24/04/2018 05:09 - Người đăng bài viết: Vũ Kiều Trang
Sống chung như vợ chồng thì có được hưởng thừa kế và giám hộ cho con riêng không? Tôi sống chung với bạn trai như vợ chồng 4 năm. Nay anh ấy qua đời, tôi có được thừa kế tài sản và nuôi con riêng của anh ấy không? Tôi năm nay 36 tuổi. Bốn năm trước tôi ly hôn, mang theo một con gái tới sống chung với bạn trai. Bạn trai tôi cũng ly hôn và có một con gái bị thiểu năng trí tuệ. Bốn người chúng tôi sống trong ngôi nhà do bạn trai tôi đứng tên sở hữu. Cách đây nửa năm, anh ấy không may bị tai nạn và qua đời, không để lại di chúc. Gia đình anh sau đó đã đuổi ba mẹ con tôi ra khỏi nhà, nói rằng tôi chỉ là vợ “hờ”. Tôi không biết mình và hai đứa trẻ có quyền được thừa kế căn nhà đó không?
Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định: Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo luật định. Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Với quy định nêu trên, hai bạn không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Về thừa kế:
Theo quy định của pháp luật về thừa kế, trường hợp người để lại di sản chết mà không để lại di chúc thì di sản thừa kế được chia theo pháp luật. Thừa kế theo pháp luật được hiểu là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.
Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 quy định, những người thừa kế theo pháp luật được xác định theo thứ tự sau:
“a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.”
Pháp luật cũng quy định những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Với quy định nêu trên thì bạn không được hưởng thừa kế của người mà bạn đã từng chung sống vì hai người không phải là vợ chồng.
Con riêng của người mà bạn từng chung sống mà bạn đang nuôi dưỡng sẽ được hưởng di sản thừa kế cùng với những người ở hàng thừa kế thứ nhất (nếu có) như điều luật đã được viện dẫn ở trên, còn con riêng của bạn và bạn thì không được hưởng thừa kế vì không thuộc hàng thừa kế nào cả . Trong trường hợp ở hàng thừa kế thứ nhất chỉ có mình đứa trẻ đó thì toàn bộ di sản thừa kế thuộc về đứa trẻ.
Để quyền và lợi ích của đứa trẻ được đảm bảo, pháp luật quy định phải có người giám hộ. Điều 61 Bộ luật Dân sự quy định về người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên (chưa đủ 18 tuổi) như sau:
Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên mà không còn cả cha và mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cả cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu, được xác định như sau:
- Trong trường hợp anh ruột, chị ruột không có thỏa thuận khác thì anh cả hoặc chị cả là người giám hộ của em chưa thành niên; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh, chị tiếp theo là người giám hộ;
- Trong trường hợp không có anh ruột, chị ruột hoặc anh ruột, chị ruột không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ; nếu không có ai trong số những người thân thích này có đủ điều kiện làm người giám hộ thì bác, chú, cậu, cô, dì là người giám hộ.
Như vậy, người giám hộ cho đứa trẻ trong trường hợp này chính là mẹ đẻ của cháu; trường hợp mẹ đẻ của cháu đã chết hoặc không đủ điều kiện giám hộ theo quy định của pháp luật thì người giám hộ sẽ được xác định theo điều luật nêu trên. Trong trường hợp xác định theo điều luật nêu trên mà vẫn không có người giám hộ thì UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ hoặc đề nghị một tổ chức đảm nhận việc giám hộ cho đứa trẻ.

HÃY GỌI 1900 6280
ĐỂ NGHE LUẬT SƯ TƯ VẤN

Nội dung tư vấn trên website chỉ mang tính tham khảo, cần Luật sư tư vấn chi tiết quý khách vui lòng gọi 1900 6280
 

Để nghe Luật sư tư vấn

19006280

Trước hết Công ty Luật Bách Dương xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng nhất!Với khẩu hiệu "An toàn pháp lý - Nền tảng thành công!" Trong quá trình hoạt động chúng tôi đã nhận được nhiều sự tin tưởng từ các quý khách hàng trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên một số thông tin chi tiết và các loại hình dịch vụ pháp lý được Công ty chúng tôi cung cấp thì không phải khách hàng nào cũng biết đến,...

Chi tiết