Đoàn Luật Sư Thành Phố Hà Nội TƯ VẤN LUẬT TRỰC TUYẾN CÔNG TY LUẬT BÁCH DƯƠNG
Hotline 1900 6280

Quan điểm luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ

Quan điểm luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ
Quan điểm luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ. Đề  nghị Toà án huỷ giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Thị Kim XX và Nguyễn Hữu XX vì đây là tài sản chung của cả bà  Nguyễn Thị XX. Dưới đây là quan điểm của luật sư.
 
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
------------o0o------------

QUAN ĐIỂM LUẬT SƯ
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcho bà Nguyễn Thị XX

Kính thưa Hội đồng xét xử,
 
Chúng tôi gồm các luật sư Phan Thị Hương XX và Nguyễn Thanh XX của Văn phòng luật sư XX - Đoàn Luật sư Hà Nội, là các luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị XX là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án xin ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Kim XX và anh Nguyễn Hữu XX, xin trình bày quan điểm luật sư như sau:
Theo đơn xin ly hôn các ngày 19/9/0000, 11/8/0000 và 9/2/0000 chị Nguyễn Thị Kim XX xin ly hôn đối với anh Nguyễn Hữu XX và vụ việc đã được Toà án nhân dân quận XX thụ lý giải quyết. Trong vụ án này chúng tôi là các luật sư bảo vệ quyền lợi cho bà Nguyễn Thị XX - mẹ của anh XX có tranh chấp với tài sản của vợ chồng anh XX chị XX cụ thể là ngôi nhà 309 XX, XX, XX nên chúng tôi chỉ có ý kiến liên quan đến phần tài sản còn không có ý kiền về phần tình cảm và cấp dưỡng, nuôi con giữa anh XX và chị XX.
Theo đơn ngày 14/4/0000 gửi Toà án quận XX, bà Nguyễn Thị XX có yêu cầu độc lập đề nghị Toà án bảo vệ quyền lợi cụ thể xác định ngôi nhà 309 Ngô Gia XX là tài sản chung của bà và anh XX, chị XX và đề nghị chia cho bà 1 phần nhà để bà ở với anh XX.
Căn cứ hồ sơ và chứng cứ mà toà án thu thập được chúng tôi thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà XX cụ thể như sau:
- Vợ chồng bà XX có tài sản là ngôi nhà trong ngõ 20m2, sau khi ông XX chồng bà XX mất bà cho thuê căn nhà nhỏ này. Năm 1994 khi XX lấy nhau ở tại ngôi nhà này được 1 năm thì XX đi lao động nước ngoài, XX đẻ con về ở nhà mẹ đẻ, bà XX lại đứng tên cho thuê ngôi nhà lấy tiền gửi bà ngoại nuôi cháu nội. Năm 1999 XX gửi tiền về nhờ bà mua nhà chỉ có 300 triệu bà hỏi được nhà chị XX bán ngôi nhà 309 XX giá 360 triệu nên bà quyết định bán ngôi nhà nhỏ lấy tiền góp vào mua nhà. Bà còn bỏ tiền để làm giấy tờ, sửa chữa lại nhà.
- Căn cứ vào các lời khai của các con của bà XX gồm: anh XX, XX, chị XX, XX, XX, thì căn nhà này là của bố mẹ họ sau bố họ (ông XX) chết thì là tài sản thuộc sở hữu chung của bà XX và các con. Nay các anh chị đã lớn có gia đình và có chỗ ở vì bà XX chưa có chỗ ở nên họ tự nguyện cho bà XX hưởng phần tài sản của họ trong khối tài sản chung này. Như vậy họ cũng có phần trong ngôi nhà 309 XX và tự nguyện cho bà XX hưởng và đề nghị toà án chia cho bà XX 1 phần diện tích nhà để ở vì bà không có chỗ ở nào khác và có ý định ở với anh XX.
- Ngoài kỷ phần của bà và của các con trong ngôi nhà bà XX còn có công sức đóng góp và giao dịch mua bán sửa sang giữ gìn ngôi nhà.
Căn cứ vào các tình tiết nêu trên thì thấy bà XX có phần trong ngôi nhà đề nghị toà án xác định phần của bà XX là 1 phần 3 và cho bà được ở vì hiện nay bà không có chỗ ở nào khác và bà có nguyện vọng ở với anh XX. Chúng tôi thấy yêu cầu này của bà XX là chính đáng đề nghị HĐXX chấp nhận.
Theo chị XX thì cho rằng bà XX chỉ cho vay tiền mua nhà là 50 triệu nay chị đồng ý trả số tiền này cho bà XX chứ không đồng ý chia cho bà XX theo kỷ phần ngôi nhà.Số tiền này là tiền bán ngôi nhà nhỏ trong ngõ (được 65 triệu) mà bà XX đã cho vợ chồng chị. Tại đơn ngày 30/5/2004 chị XX đề nghị toà án bác yêu cầu của bà XX và chỉ đồng ý trả cho bà XX 50 triệu đồng. Chúng tôi thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị XX vì:
- Tại BL số 28 chị XX khai: " Sau khi cưới chúng tôi ở tại căn nhà này chỉ 2 tháng, tôi biết ngôi nhà này là của anh Hùng còn không biết nguồn gốc căn nhà là mẹ chồng mua hay thuê".
Tôi ở căn nhà này được 2 tháng sau đó tôi ở nhà mẹ chồng khi cháu được 1 tháng tôi về nhà mẹ đẻ ở. Năm 1998 vợ chồng tôi nhờ cả mẹ đẻ và mẹ chồng đi mua đất đẻ về nuớc chúng tôi xây nhà. Vợ chồng tôi gửi cho mẹ đẻ 360 triệu để mẹ tôi mua đất. Số tiền bán nhà trước đấy tôi không biết".
Tại BL 43 chị XX khai: "Nhà 30i XX do vợ chồng đi lao động ở XX gửi tiền về cho mẹ chồng mua. Mua 350 triệu vợ chồng có 300 triệu mẹ chồng tôi là bà XX cho vay 50 triệu. Nay ly hôn không thể chia cho mẹ chồng mà chỉ đề nghị trả lại 50 triệu".
Không có tài liệu nào trong hồ sơ chứng minh bà XX đã cho vợ chồng chị XX anh XX ngôi nhà nhỏ ở trong ngõ mà đã bán được 65 triệu đồng. Vì cái này này là tài sản chung của bà X và các con của bà XX nên giả sử bà XX có nói cho thì cũng không có giá trị.
Nay chị XX khẳng định vợ chồng chị không đóng góp vào qúa trình giao dịch mua bán nhà và công nhận bà XX có góp tiền vào mua nhà. Do vậy không thể chấp nhận yêu cầu chỉ trả bà XX tiền mà không chia cho bà theo kỷ phần đóng góp vào ngôi nhà của chị XX được vì thực tế là bà XX đã góp tiền và công sức vào ngôi nhà nên có quyền được hưởng lợi nhuận từ ngôi nhà.
Còn bà XX khai tại BL 15-16 là: "ngôi nhà nhỏ bà mua trước khi XX về làm dâu hai năm. Năm 1999 tôi bán góp thêm vào mua nhà 309 X".
Tại lời khai của bà Lê Thị XX chủ ngôi nhà 309 ngày 9/6/2004 khai như sau: "Ngôi nhà 309 XX trước đây là của vợ chồng tôi. Năm 1999 tôi bán cho bà XX. Bà XX nói là mua cho bà và các con bà ở. Tôi bán ngôi nhà  cho bà XX số tiền là 350 triệu và bà XX đã giao dịch và đặt cọc trước cho tôi 20 triệu. 1 tuần sau bà XX và 1 người đến trả tôi 300 triệu. Số tiền còn thiếu bà XX khất đợi người mua nhà cũ của bà trả thì bà trả nốt cho tôi. Mọi giao dịch mua bán nhà do tôi và bà  XX thực hiện. Toàn bộ số tiền bán nhà đều do bà XX trả cho tôi. Toàn bộ thủ tục giấy tờ chuyển nhượng và chi phí nộp thuế trước bạ do bà XX thực hiện tại các cấp có thẩm quyền. Ngôi nhà này trước đây của gia đình tôi là 1 tầng bán hàng thịt chó có 2 phòng rất tạm bợ. Sau khi bán cho bà XX, bà đã lát lại nền nhà làm thêm 2 phòng và thay cửa kính bằng cửa xếp và sửa sang lại rất khang trang".
Ngôi nhà này sau khi mua của bà XX thì đứng tên bà XX. Sau này khi XX XX và nói là lấy giâý tờ để xin phép xây dựng thành nhà 4 tầng thì bà XX mới đưa và chị XX đã tự ý đem đi sang tên vợ chồng chị mà bà không biết. Do đó bà đề nghị toà án huỷ giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Thị Kim XX và Nguyễn Hữu XX vì đây là tài sản chung của cả bà XX.

HÃY GỌI 1900 6280
ĐỂ NGHE LUẬT SƯ TƯ VẤN

Nội dung tư vấn trên website chỉ mang tính tham khảo, cần Luật sư tư vấn chi tiết quý khách vui lòng gọi 1900 6280
Tags :
 

Để nghe Luật sư tư vấn

19006280

Trước hết Công ty Luật Bách Dương xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng nhất!Với khẩu hiệu "An toàn pháp lý - Nền tảng thành công!" Trong quá trình hoạt động chúng tôi đã nhận được nhiều sự tin tưởng từ các quý khách hàng trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên một số thông tin chi tiết và các loại hình dịch vụ pháp lý được Công ty chúng tôi cung cấp thì không phải khách hàng nào cũng biết đến,...

Chi tiết